Gia Đình Phật Tử Thanh Sơn

ĐÀO LUYỆN THANH THIẾU ĐỒNG NIÊN TRỞ THÀNH NGƯỜI PHẬT TỬ CHÂN CHÁNH GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI THEO TINH THẦN PHẬT GIÁO

 
Trang ChínhThành viênĐăng kýĐăng NhậpCalendarTrợ giúpTìm kiếmNhómPortal
Top posters
Admin (34)
 
tam phap (32)
 
dieugiang (11)
 
Bao_Tu_An (11)
 
ductan (9)
 
Diệu Tuyến (4)
 
ngoccuongtran (4)
 
tatdatda (3)
 
Nguyên Toàn (3)
 
taman (3)
 
Bài gửiNgười gửiThời gian
tâm sự *******bất chợt..........!!!!@@@@##$$$ Mon Jul 16, 2012 10:24 am
Ngành nữ đâu rồi......... Mon Jul 16, 2012 10:20 am
Ảnh Du Lịch Đà Lạc Thu Jun 14, 2012 8:17 am
Sen Non GĐPT Thanh Sơn Tue Jun 12, 2012 9:05 pm
VÈ NGÀY DŨNG?????????????/ Sun Apr 15, 2012 11:45 am
MÀU LAM ẤY!!!!!!!!!!!!!! Sun Apr 15, 2012 10:49 am
Nỗi đâu của MẸ.................... Thu Apr 12, 2012 4:03 pm
Chuyện có thật về một chú có Fri Mar 02, 2012 5:01 am
hình trại nè ACE lam Thanh Sơn Thu Feb 23, 2012 11:20 am
Thành phần BQT ngày Dũng Tue Feb 14, 2012 3:27 pm
Chương trình trại DŨNG. Tue Feb 14, 2012 9:48 am
Ngày Dũng truyền thống của GĐPT Việt Nam (08/02 Âm lịch) Tue Feb 14, 2012 9:32 am


Share | 
 

 Lịch sử Đức Phật Thích Ca p2

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
ductan
Admin


Tổng số bài gửi : 9
Join date : 05/08/2010
Age : 33

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử Đức Phật Thích Ca p2   Thu Aug 12, 2010 5:00 am

Đức Phật nói: "Nếu bà Gotami chấp nhận thực hành tám điều quy định
nghiêm khắc sau đây, thì Ta cho phép Bà và các phụ nữ xuất gia, tu học
dưới pháp và luật của Ta". Rồi Đức Phật nói ra tám điều qui định nghiêm
khắc mọi quan hệ giữa Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (xem luật Tỳ kheo ni). Ông
Ananda đem 8 điều luật Phật nói thưa lại với bà dì Gotami và các bà
khác. Các bà đều hoan hỷ nhận lời.

Cho phép bà dì Gotami xuất
gia và thành lập đoàn Tỳ kheo ni, Đức Phật đã thấy trước hậu quả của
quyết định của mình. Ngài nói với đại đức Ananda rằng: "Này Ananda, nếu
phụ nữ không được phép xuất gia và sống trong Pháp và Luật của Ta, thì
cuộc sống Thánh hạnh của các đệ tử của Ta có thể giữ vững dài lâu,
Chánh pháp cao cả của Ta có thể duy trì một ngàn năm, nhưng vì phụ nữ
được phép xuất gia, cuộc sống Thánh của các đệ tử Ta sẽ không duy trì
dài lâu, và từ nay Chánh pháp cao cả của Ta chỉ còn tồn tại 500 năm nữa
mà thôi".

"Cũng như, này Ananda, có những ngôi nhà có nhiều phụ
nữ và ít đàn ông, những ngôi nhà đó rất dễ bị mất trộm. Nếu để phụ nữ
xuất gia, sống trong Pháp và Luật của Như Lai, cuộc sống Thánh của các
đệ tử sẽ khó mà duy trì dài lâu. Cũng như một người đắp một con đê để
ngăn một bể nước lớn, không để cho nước tràn qua. Ta cũng vậy, Ta chế
định ra 8 giới điều nghiêm khắc trên là để ngăn ngừa không để cho Tỳ
kheo ni vi phạm".

Những lời Phật dạy, tuy có thể không được
thuận tai đối với phụ nữ, nhưng cũng phải nhận rằng, Đức Phật đã sớm
thấy rõ, đối với phụ nữ nói chung, bản tánh mềm yếu và dễ cảm xúc, cuộc
sống xuất gia không phải dễ dàng. Quan hệ giữa nam và nữ tu sĩ trong
Tăng đoàn cũng dễ xãy ra nhiều chuyện rắc rối.

Mặc dù vậy, Đức
Phật là vị giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cho thành lập một
Ni đoàn với đầy đủ giới luật và uy nghi. Bà la môn giáo, và các tôn
giáo khác đương thời ở Ấn Độ đều không có đoàn thể phụ nữ tu hành như
vậy. Hơn nữa, trong thời Đức Phật còn tại thế và sau nầy, nhiều Tỳ kheo
ni đã chứng quả A la hán và trở thành nổi danh trong hành tu sĩ, như
chúng ta có thể đọc thấy trong cuốn "Trưởng lão ni kệ" thuộc Tiểu Bộ
Kinh.

22. Đức Phật và Tôn giả Ananda

Ananda là anh em cô
cậu với Đức Phật và là con của Amitodana, em vua Suddhodana, thân phụ
của Đức Phật. Vì ngày ông sinh ra đem lại niềm hoan hỷ cho mọi người
trong gia tộc, cho nên Tôn giả được đặt tên Ananda (Khánh Hỷ).

Tôn
giả Ananda xuất gia theo Phật, cùng với các thanh niên khác dòng họ
Sakya, là Anuruddha, Bhadya, Bhaga, Kimbila, và Devadatta. Năm Đức Phật
55 tuổi, tôn giả Ananda được cử làm thị giả của Đức Phật. Trong suốt 25
năm trời, từ ngày ấy cho đến lúc Đức Phật nhập Niết bàn, Tôn giả Ananda
luôn luôn ở bên cạnh Đức Phật, hầu hạ săn sóc Đức Phật, trong mọi nhu
cầu sinh hoạt hàng ngày. Ông Ananda có một trí nhớ lạ lùng, ông ghi nhớ
không bỏ sót tất cả các bài thuyết pháp của Đức Phật cũng như của một
số đệ tử lớn của Đức Phật.

Khi một Bà La Môn hỏi Tôn giả nhớ
được bao nhiêu bài kinh, Tôn giả trả lời là có 82.000 bài của Đức Phật
thuyết và 2.000 bài của các Tỳ kheo, đệ tử của Đức Phật thuyết. Đúng là
có tổng số 84.000 bài kinh tất cả.

Đức Phật tán thán năm đức hạnh của Tôn giả Ananda là: học uyên bác, trí nhớ tốt, kiên định, săn sóc chu đáo, ứng xử tốt.

Mãi
sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Tôn giả Ananda mới chứng quả A la hán.
Đấy là do khi Đức Phật còn tại thế, tôn giả bận làm công việc thị giả,
cũng như bận ghi nhớ các bài giảng của Đức Phật, như một đệ tử bác học
đa văn. Tôn giả Ananda nhập Niết bàn, năm ông 120 tuổi.

23. Đức Phật và Devadatta (Đề Bà Đạt Đa)

Devadatta
là con vua Suppabuddha và hoàng hậu Pamita, Pamita là một bà cô của Đức
Phật, Devadatta xuất gia theo Phật, cùng một lượt với ông Ananda và các
thanh niên quý tộc khác, thuộc giòng họ Sakya. Devadatta không chứng
được quả nào, nhưng lại giỏi một số pháp thần thông, và được vua
Ajattasattu (A Xa Thế) xứ Magadha ủng hộ. Mặc dù lối sống hư hỏng, và
tà kiến, tà hạnh, Devadatta vẫn được một số khá đông người tán thành và
phục tùng. Khi Đức Phật về già, Devadatta yêu cầu Phật trao cho mình
quyền lãnh đạo Tăng già, nhưng Đức Phật kiên quyết không chấp nhận.

Devadatta
hết sức tức giận, và cùng với vua Ajattasattu âm mưu hại Phật. Nhưng
các xạ thủ được Ajattasattu thuê giết Phật, đều bị Đức Phật thuyết giáo
và trở thành đệ tử của Phật. Devadatta thấy tự mình phải hạ thủ sát hại
Phật mới được. Một lần Đức Phật đang đi dọc bờ núi Gijjhakuta (Linh
Thứu), thì Devadatta từ trên đỉnh núi đẩy xuống một tảng đá lớn. May mà
tảng đá nầy lăn đụng phải một tảng đá khác và bị vỡ. Đức Phật chỉ xây
xát và chảy máu ở chân.

Một lần khác, Devadatta cho một con voi
điên uống rượu, rồi xua voi húc Phật. Con voi chạy đến gần Phật thì
bỗng nhiên đứng lại, bị thuần phục và được Phật xoa đầu. Sau lần âm mưu
thất bại này, vua Ajatasattu sợ quá, không dám tiếp tục che chở cho
Devadatta nữa.

Devadatta bèn nuôi một âm mưu khác, xảo quyệt
hơn: với một số Tỳ kheo xấu như Kokàlika, Devadatta muốn phá hoà hợp
tăng, chia rẽ nội bộ Tăng già, Devaddata kiến nghị Đức Phật ban hành 5
điều luật mới như sau:

Tăng sĩ phải sống suốt đời ở trong rừng.
Chỉ được khất thực để ăn.
Chỉ được mặc áo làm bằng giẻ rách lượm ở nghĩa địa.
Chỉ được sống dưới gốc cây.
Suốt đời không được ăn cá thịt.

Đức
Phật chỉ trả lời là các đệ tử có thể tùy ý sống theo hay không theo 5
giới điều ấy, nhưng Ngài không ép buộc họ. Devadatta lợi dụng sự từ
chối của Đức Phật, lôi kéo được một số tăng sĩ trẻ, thiếu học thức và
không có căn bản vững vàng, đi theo mình đến Gayasisa. Nhưng hai đệ tử
lớn của Phật là Sariputta và Moggalana, theo chỉ thị của Đức Phật cũng
đến Gayasisa, thuyết pháp cho họ nghe, và dẫn họ về trở lại với chánh
pháp.

Từ đó, tai nạn liên tiếp đến với Devadatta. Mắc bệnh nan
y, trước khi chết, Devadatta ăn năn hối lỗi và tỏ ý muốn được gặp Đức
Phật. Nhưng vì nghiệp ác quá nặng cho nên Devadatta chết mà không gặp
Phật, và phải đọa địa ngục, chịu khổ trong nhiều kiếp.

Về việc
Devadatta, Đức Phật răn các Tỳ kheo rằng, vì Devadatta bị chinh phục
bởi các ác pháp, cho nên phải đọa địa ngục, tức là bị chinh phục bởi
lợi dưỡng, danh vọng, cung kính, dục vọng xấu, tà kiến. (Xem Tăng Chi
III, 20)

24. Đức Phật và Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anàthapindika)

Nhà
triệu phú, trưởng giả Anathapindika là vị thí chủ lớn nhất ủng hộ Đức
Phật và tăng chúng, thời Đức Phật còn tại thế. Ông vốn tên là Sudatta,
nhưng vì ông hay bố thí cho kẻ nghèo và người mồ côi, mồ cút cho nên
người ta tôn gọi ông là Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anathapindika). Ông sinh
ra ở Savatthi.

Một lần đến thành Rajagaha (Vương Xá) có công
việc, ông được biết là Đức Phật đang ngụ ở rừng Sitavana, ngoài thành
Rajagaha. Ông vui mừng khôn xiết và sáng sớm hôm sau, trải qua một đêm
dài mất ngủ vì quá sung sướng bồn chồn, ông lên đường đi đến rừng
Sitavana. Tại đây, Đức Phật đang đi kinh hành ngoài trời và biết trước
ông đến, gọi ông bằng tên riêng Sudatta và thân mật bảo ông lại gần
Ngài.

Ông vấn an Phật, hỏi thăm Đức Phật có an lạc không, Đức Phật trả lời:
"Tất nhiên, bao giờ cũng sống an lạc
Bậc A la hán trong lòng mọi ngọn lửa đã dập tắt.
Không còn đeo đuổi theo dục lạc vật chất nữa.
Cõi lòng mát lạnh, mọi sanh y đoạn tận.
Mọi trở ngại đều loại trừ, đã khéo chế ngự,
Mọi đau khổ trong tâm
Bậc A la hán sống an lạc, hạnh phúc
Vì trong lòng được an tịnh". (Tương Ưng I, 273)

a) Tinh xá Jatavana

Nghe
lời Phật giảng, ông Anathapindika chứng được Sơ quả (Sotapanna), và ông
thỉnh cầu Đức Phật sống qua mùa mưa ở Savatthi. Đức Phật nhận lời. Ông
Anathapindika, trở về Savatthi, mua một khu vườn của Thái tử Jeta (Kỳ
Đà), và xây ở đây tu viện Jetavana nổi tiếng.

Sách kể rằng, ông
mua khu vườn bằng số tiền đồng vàng lát đầy diện tích vườn, theo sự đòi
hỏi của Thái tử Jeta. Nhưng Thái tử không chịu bán cây ở trong vườn, và
tự mình đem tất cả những cây đó cúng dường Đức Phật. Từ đó, công viên
có tên gọi trong các kinh Phật (Hán dịch) là "Cấp cô độc viên Kỳ đà
thụ". Đức Phật đã giảng nhiều kinh, và trải qua 19 mùa mưa ở Tịnh Xá
nầy.

Các bài nói chuyện của Đức Phật với ông Anathapindika đều
có ý nghĩa lớn đối với người Phật tử tại gia. Trong một bài thuyết pháp
về hạnh bố thí, Đức Phật nói là "sự cúng dường cho Phật và chư Tăng là
công đức rất lớn, nhưng có công đức hơn nữa là quy y Phật, quy y Pháp,
quy y Tăng, có công đức hơn 3 quy y là tự mình giữ 5 giới, có công đức
hơn giữ 5 giới là quán về lòng từ trong giây phút; nhưng có công đức
hơn cả là phát triển tầm nhìn trí tuệ thấy được sự vật như thật và hiểu
được tánh vô thường của sự vật" (Tăng Chi IV, 264 - 265)

Qua
đoạn kinh trên, có thể thấy điều Đức Phật coi trọng hơn cả đối với
người xuất gia hay tại gia là phát triển trí tuệ, để nhìn thấy sự vật
như thật, đúng bản chất của chúng là vô thường, vô ngã. Tuy bố thí,
cúng dường cũng là điều quan trọng, đối với người tại gia, nhưng tự
mình tu tập, thực hành nếp sống đạo đức theo 5 giới, nuôi dưỡng lòng từ
lại càng quan trọng hơn, nhưng quan trọng hơn cả là phát triển trí tuệ,
để nhìn được sự vật như thật, nhờ đó mà không còn bị tham đắm, nội tâm
được giải thoát, tự tại, trí tuệ được trong sáng.

b) Bốn niềm vui của Phật tử tại gia

Đức
Phật nói tới bốn niềm vui chính đáng của người Phật tử tại gia, niềm
vui có của cải, niềm vui được giàu có, niềm vui không có nợ nần, và
niềm vui không có gì bị chê trách.

"Thế nào là niềm vui có của
cải? Ở đây, gia chủ có của cải nhờ phấn đấu tích cực, góp gom được bằng
sức của bàn tay, bằng mồ hôi, đúng pháp, và tích lũy được một cách đúng
pháp, và có ý nghĩ: 'Của cải này là của tôi, có được nhờ phấn đấu tích
cực tích lũy đúng pháp', cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta.
Đó là niềm vui có của cải".

"Thế nào là niềm vui được giàu có? Ở
đây, vị gia chủ được giàu có nhờ phấn đấu tích cực, vui vẻ nhờ giàu có
và làm nhiều việc lành. Vì có ý nghĩ 'Nhờ giàu có mà có thể hưởng thụ
sự giàu có và làm các việc lành', cho nên niềm vui và sự thỏa mãn đến
với ông ta. Đó là niềm vui được giàu có".

"Thế nào là niềm vui
không có nợ nần? Ở đây, vị gia chủ không có nợ nần, lớn hay nhỏ đối với
bất cứ một ai. Vì có ý nghĩ 'Tôi không có nợ nần, dù lớn hay nhỏ đối
với bất cứ một ai', cho nên niềm vui và thỏa mãn đến với ông ta. Đó là
niềm vui không có nợ nần".

"Thế nào là niềm vui không bị chê
trách? Ở đây, Vị Thánh đệ tử có niềm vui vì các hành động của thân,
miệng và ý đều không có gì là đáng chê trách. Với ý nghĩ 'Tôi không có
gì đáng chê trách ở thân, miệng và ý', niềm vui và thỏa mãn đến với ông
ta". (Tăng Chi III, 77 - 78)

Tiếp đó, Đức Phật nói trong ba niềm
vui trên đây của người tại gia, niềm vui không có gì đáng bị chê trách
nơi hành động, lời nói và ý nghĩ là ưu việt hơn cả.

c) Bảy loại người vợ

Một
lần, Đức Phật đến thăm nhà ông Anathapindika, nghe có tiếng ồn ào thất
thường trong nhà, bèn hỏi nguyên nhân, ông Anathapindika thưa:

"Bạch
Thế Tôn, đó là Suyata, con dâu tôi đang ở với chúng tôi. Nó giàu có và
đến đây từ một gia đình giàu có, nó không săn sóc gì tới mẹ chồng, bố
chồng và cả chồng nó nữa. Nó cũng không kính trọng, tôn quý và đảnh lễ
Đức Thế Tôn". Đức Phật cho gọi Suyata lại và giảng cho nghe về bảy loại
người vợ:

1. Người vợ có tâm địa ác, có ý xấu, không có lòng
thương, bỏ rơi chồng mình, yêu những người đàn ông khác, một dâm nữ,
chỉ muốn làm phiền lòng người. Đó là loại vợ sát nhân.

2. Người
vợ hay hoang phí của cải tài vật, dù là ít do chồng làm ăn kiếm được,
nhờ cày ruộng, buôn bán hay lao động khéo tay, đó là loại vợ ăn trộm.

3.
Người vợ lười biếng, không muốn làm gì hết, lại tham ăn, ác độc, thô
bạo, thích nói lời ác, lấn át người chồng siêng năn cần mẫn. Đó là loại
vợ kiêu xa.

4. Người vợ trìu mến, thân ái bảo vệ chồng như mẹ bảo vệ con, giữ gìn tài sản của chồng, đó là loại vợ như mẹ.

5. Người vợ kính trọng chồng, như em gái đối với anh cả, khiêm tốn, sống chiều đúng theo ý chồng. Đó là loại vợ như em út.

6.
Người vợ sung sướng khi thấy chồng, như gặp người bạn cũ sau bao năm xa
cách, thuộc giòng quý tộc, có đạo đức, sống thanh tịnh. Đó là loại vợ
như bạn bè.

7. Người vợ dù là bị đối đãi không tốt, nhưng không
giận hờn, vẫn bình tĩnh, chịu đựng mọi hành vi của chồng với lòng từ
mẫn, tâm không biết giận, sống chiều đúng theo ý chồng. Đó là loại vợ
như người phục vụ.

Đức Phật sau khi mô tả bảy loại người vợ nói
trên, nói rằng: loại vợ sát nhân, loại vợ ăn trộm, loại vợ kiêu xa đều
là không tốt, còn loại vợ như mẹ, như em út, như bạn bè, như người phục
vụ là những người vợ tốt, đáng tán thán, và Đức Phật hỏi đó là bảy loại
vợ mà một người đàn ông có được, và Suyata muốn là loại người vợ nào?

Suyata trả lời: "Xin đức Thế Tôn từ nay trở đi nghĩ về cháu là loại vợ như người phục vụ".

d) Cây bồ đề Ananda

Ông
Anathapindika thường hay đến thăm Đức Phật hàng ngày và thấy các Phật
tử tỏ ra thất vọng mỗi khi đến mà không được gặp Phật vì Phật đi thuyết
pháp ở một nơi khác, cho nên hỏi Đại Đức Ananda xem có cách gì để cho
Phật tử có thể cúng dường Phật, dù Ngài vắng mặt. Đại Đức Ananda bạch
Phật về chuyện này và hỏi Phật về các vật đáng được cúng dường, đảnh
lễ. Đức Phật trả lời là có ba loại. Loại đồ vật thuộc về thân Đức Phật,
loại đồ vật Đức Phật thường dùng, và loại đồ vật nhắc nhủ nhớ tới Đức
Phật.

Đại Đức Ananda hỏi: "Xây một tháp thờ khi đức Thế Tôn còn sống có thích hợp chăng?"

"Không,
một vật nhắc nhủ nhớ tới Đức Phật không có cơ sở vật chất, chỉ có ý
nghĩa thuần túy tinh thần. Như cây Bồ Đề, được Đức Phật sử dụng, là một
vật đáng cúng dường, dù khi Đức Phật còn sống hay là khi Đức Phật đã
diệt độ rồi."

Đại Đức Ananda nói: "Khi đức Thế Tôn đi thuyết
pháp ở nơi khác, tu viện lớn Jetavana nầy không có nơi để quần chúng
quy ngưỡng và cúng dường. Con có thể lấy hạt cây Bồ Đề lớn ở Bodhi Gaya
(Bồ Đề Đạo Tràng) và gieo nó ở cửa Tinh Xá Jetavana được không?"

Đức Phật trả lời: "Rất tốt, hãy trồng cây Bồ Đề ở đây. Như thế khác nào bao giờ Ta cũng có mặt ở Tinh Xá Jetavana nầy".

Đại
Đức Ananda nói ý kiến của Đức Phật với Phật tử tại gia như ông
Anathapindika, nữ gia chủ Visakha và vua Pasenadi xứ Kosala. Đại Đức
Ananda nhờ Tôn giả Moggalana (Mục Kiền Liên) tìm cho một quả Bồ Đề trên
cây Bồ Đề lớn ở Bodhi Gaya. Đại Đức Ananda đem trồng ở cửa Tinh Xá
Jetavana. Cây Bồ Đề ấy hiện nay vẫn còn, và được gọi là cây Bồ Đề
Ananda.

e) Ông Anathapindika qua đời và sinh lên cõi trời Đâu Suất

Khi
ông Anathapindika lâm bệnh nặng, ông mời Tôn giả Sariputta đến giảng
kinh tại nhà. Cả Ngài Sariputta và Ngài Ananda cũng đến vấn an ông. Tôn
giả Sariputta giảng cho ông nghe một bài kinh sâu sắc. Nghe bài kinh
gần xong, hai mắt ông trào đầy lệ vì quá cảm động. Ông Ananda hỏi vì
sao, thì ông trả lời là ông chưa từng được nghe một bài thuyết pháp sâu
sắc đến thế. Ngài Sariputta trả lời, đây vốn là một bài thuyết pháp chỉ
giảng cho những Tăng sĩ có trình độ tu học cao.

Ít lâu, sau khi hai Ngài Sariputta và Ananda ra đi, ông Anathapindika qua đời và sanh lên cõi Trời Tushita (Đâu Suất).

Đến
tối, thiên chủ Anathapindika, với thân hình sáng chói cả khu vườn
Jetavana, đến chào Đức Phật, tán thán công đức của Tôn giả Xá Lợi Phất,
và bày tỏ niềm vui sướng của mình được thấy Đức Phật và chư Tăng ngụ
tại Tu Viện Jetavana. Thiên chủ Anathapindika nói:

"Ý lành và
trí tuệ, tâm được tu tập đúng pháp, lối sống tối cao cả, dựa trên đạo
đức chân chính. Chính điều ấy làm con người thanh tịnh, chứ không phải
danh lợi thế gian".

25. An cư kiết hạ

Sự nghiệp giáo hóa
và thuyết pháp của Đức Phật kéo dài 45 năm, từ năm Đức Phật thành đạo
lúc 35 tuổi cho đến năm tuổi 80, Đức Phật nhập Niết bàn. Năm này qua
năm khác, Đức Phật đi nơi này nơi kia, khi thì đi một mình, khi thì có
đông đảo đệ tử đi theo, thuyết pháp độ sanh, giáo hóa quần chúng bằng
gương sáng cao cả của bản thân, và bằng lời lẽ đầy trí tuệ. Chỉ vào mùa
mưa, ở Ấn Độ, thông thường giữa tháng 7 và tháng 11, Đức Phật nghỉ lại
trong các tu viện và thuyết pháp tại chỗ, không đi ra ngoài. Tục lệ này
gọi là An cư kiết hạ, được Tăng ni Phật tử duy trì liên tục cho đến
ngày nay, ở khắp các nước có Phật giáo. Vào mùa an cư kiết hạ, quần
chúng là tín đồ hay không tín đồ, hàng ngày kéo đến đông đảo tại tu
viện hay công viên, nơi có Đức Phật và Chư Tăng trú ngụ, để được nghe
thuyết pháp, cúng dường Phật và Chư Tăng.

26. Đức Phật và vua Pasenadi xứ Kosala

Như
đã nói trên, trong 45 năm giáo hóa và thuyết pháp độ sanh, Đức Phật
hoặc một mình, hoặc cùng với đông đảo học trò đi lại nhiều nơi ở vùng
trung châu sông Hằng. Nhưng thời gian dài nhất, Đức Phật ở tại
Savatthi, kinh đô của vương quốc Kosala.

Cũng như Trưởng giả
Anathapindika, vua Pasenadi (Ba Tư Nặc) xứ Kosala là một thí chủ lớn
của Đức Phật và Chư Tăng. Ở Savatthi, ngoài Tinh Xá Jetavana của ông
Anathapindika cúng dường Đức Phật, còn có tu viện Rajakarama do vua
Pasenadi xây cất, để cúng dường Phật và Chư Tăng.

Hoàng hậu
Malika, vợ vua cũng là một tín đồ thuần thành của Đức Phật và khéo
hướng dẫn giúp đỡ vua một cách tốt đẹp trong các vấn đề tôn giáo. Có
lần, vua nằm thấy liên tiếp 16 cơn mộng bất thường, các đạo sĩ Ba la
môn ở trong triều nói đó là điềm gở và khuyên vua phải tổ chức tế đàn
lớn, giết nhiều sinh vật để cúng tế thì mới tai qua nạn khỏi. Vua cũng
nghe theo và chuẩn bị tổ chức tế đàn.

Khi Hoàng hậu Malika
biết tin, bà khuyên vua, thay vì tổ chức tế đàn, hãy yết kiến Phật và
hỏi Ngài về ý nghĩa của 16 cơn mộng. Và vua được yên tâm, sau khi nghe
Phật giải thích đầy đủ về 16 cơn mộng bất thường của vua. Vua bèn thôi
không tổ chức tế đàn nữa.

Một niềm hạnh phúc lớn của vua
Pasenadi là được nghe Đức Phật thuyết pháp nhiều lần. Tương Ưng Bộ Kinh
có một chương đặc biệt, có đầu đề "Tương Ưng Kosala" ghi lại phần lớn
các bài thuyết pháp của Đức Phật cho vua Pasenadi. Sau đây xin trích
giới thiệu nội dung vài đoạn trong chương Kosala Tương Ưng:

a) Đánh giá một người là thế nào không phải là chuyện đơn giản.

Một
lần, vua Pasenadi ngồi bên cạnh Phật, tại lâu đài Migaramatu, thì thấy
có một số du sĩ ngoại đạo đi ngang gần đấy. Người thì bện tóc, người
thì lõa thể, người thì chỉ mặc một y. Vua hỏi Đức Phật là trong số các
du sĩ đó, ai là người đã chứng quả A la hán, ai là người đang trên
đường tiến tới chứng quả A la hán. Đức Phật trả lời là đối với nhà vua
đang sống trong vòng dục lạc, dùng các loại hương chiên đàn từ xứ Kasi,
trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, dùng nhiều vàng bạc, thì
thật là khó biết trong số các du sĩ vừa đi qua, ai là A La Hán và ai
đang trên con đường tiến tới chứng quả A La Hán. Hơn nữa phải cùng sống
lâu với một người, lại phải biết chú ý, xem xét và phải có trí tuệ, thì
mới có thể biết được người đó có giới hạnh hay không, phải cùng chung
một nghề, mới biết được một người có thanh tịnh hay không, phải qua sự
thử thách của một thời gian bất hạnh mới biết được một người có trung
kiên hay không, phải qua đàm đạo với một người mới biết được người đó
có trí tuệ hay không. Hơn nữa, phải trải qua một thời gian dài có chú
ý, xem xét và phải có trí tuệ thì mới có thể đánh giá một con người là
thế nào,... Và cuối cùng Đức Phật khuyên vua xem xét người, không nên
chỉ nhìn bộ mặt bề ngoài, có thể là giả dối che đậy.

b) Đức Phật khuyên coi trọng phụ nữ, ngang hàng với nam giới.

Một
lần, vua Pasenadi, được tin Hoàng hậu Malika hạ sanh con gái, tỏ vẻ
không vui. Đức Phật, biết tâm trạng đó của vua, bèn đọc bài kệ:
"Này nhân chủ ở đời
Có một số thiếu nữ
Có thể tốt đẹp hơn
So sánh với con trai
Có trí tuệ giới đức
Khiến nhạc mẫu thánh phục
Rồi sanh được con trai
Là anh hùng, quốc chủ
Người con trai như vậy,
Của người mẹ hiền đức
Thật xứng là đạo sư
Giáo giới cho toàn quốc". (Tương Ưng I, 104)

c) Không nên coi thường Tỳ kheo trẻ.


lần vua Pasenadi hỏi vì sao, Đức Phật tuổi còn trẻ và xuất gia chưa bao
lâu, mà chứng được quả Vô thượng Chánh đẳng giác, là quả Thánh cao nhất
mà nhiều vị giáo chủ khác, tuy tuổi đời và đạo đều cao hơn Đức Phật,
nhưng thừa nhận rằng mình chưa đạt tới được. Đức Phật trả lời, có bốn
cái trẻ không thể coi thường. Thứ nhất là Sát đế lỵ trẻ (võ tướng trẻ
thuộc đẳng cấp Sát đế lỵ), thứ hai là con rắn trẻ, thứ ba là ngọn lửa
trẻ (mới nhen nhúm lên), và thứ tư là Tỳ kheo trẻ.

Ý từ Đức Phật
là vị võ tướng trẻ có thể chiếm thiên hạ, rắn trẻ có thể cắn chết
người, ngọn lửa trẻ có thể đốt cháy cánh đồng lớn, Tỳ kheo trẻ - nếu
tinh tấn tu hành - có thể chứng quả Thánh.

d) Chiến thắng nuôi dưỡng hận thù.

Pasenadi,
làm vua xứ Kosala hùng mạnh không tránh khỏi chiến tranh với các nước
láng giềng, đặc biệt là với chính cháu mình là Ajatasattu, vua xứ
Magadha. Có khi vua Pasenadi bại trận, có khi vua Pasenadi chiến thắng,
thậm chí có lần bắt sống được vua Ajatasattu. Vì vua Pasenadi là người
có tâm địa tốt, sùng kính Phật, cho nên khi bắt sống được vua
Ajatasattu, vua chỉ tịch thu toàn bộ binh mã, còn thì tha cho vua
Ajatasattu trở về.

Khi các Tỳ kheo thuật lại chuyện này với Đức Phật. Ngài nói lên hai bài kệ. Bài đầu, khi vua Pasenadi thất trận:
"Thắng trận sinh thù oán
Bại trận nếm khổ đau
Ai bỏ thắng bỏ bại,
Tịch tịnh hưởng an lạc". (Tương Ưng I, 102)

Bài kệ thứ hai, Đức Phật nói lên khi nghe các Tỳ kheo thuật chuyện vua Pasenadi thắng trận và bắt sống được vua Ajatasattu:
"Vì nghĩ đến tư lợi,
Nên mới cướp hại người
Khi người khác cướp lại,
Bị hại lại hại người
Người ngu nghĩ như vậy,
Khi ác chưa chín muồi
Người ngu chịu khổ đau,
Sát người, bị người sát
Thắng người, bị người thắng
Mắng người, người mắng lại.
Não người, người não lại
Do nghiệp được diễn tiến
Bị hại, lại hại người". (Tương Ưng I, 103)

27. Đức Phật và nữ thí chủ Visakha

Cũng
tại Savathi, Đức Phật còn có thêm một tinh xá thứ ba nữa, do nữ thí chủ
Visakha xây. Tinh xá gọi là Pubbarama. Đức Phật và Tăng chúng đã trải
qua sáu mùa kiết hạ tại Tinh xá này của bà Visakha. Bà là con gái nhà
triệu phú Dhananjaya, mẹ là Sumanà Devi và ông nội của bà cũng là một
nhà triệu phú tên là Mendaka.

Ngay từ năm bà lên 7 tuổi, bà được
may mắn gặp Đức Phật, khi Đức Phật đến Bhaddiya, nơi sinh quán của Bà,
tại vương quốc Anga. Do có trí thông minh và đạo đức bẩm sinh, sau khi
nghe Phật giảng pháp, mặc dù tuổi còn nhỏ, bà cũng chứng Sơ quả
(Sotapanna).

Bà có một người chồng giàu có, Punnavadhana, con
trai nhà triệu phú Migàra. Bố chồng vốn là một tín đồ thuần thành của
Nigantha Nataputta, vị giáo chủ của đạo Jain. Bà đã khéo léo xin được
phép mời Đức Phật đến nhà chồng thụ trai và sau đó, thuyết pháp cho cả
gia đình nghe. Bố chồng cũng nghe nhưng ngồi sau một bức màn. Vào cuối
bài thuyết pháp của Đức Phật, bố chồng giác ngộ, chứng ngay Sơ quả. Cả
gia đình chồng trở thành một gia đình Phật tử hạnh phúc và thuần thành.

Bà yêu cầu Đức Phật đồng ý cho bà được làm tám việc đối với Tăng chúng như sau:
Tặng áo cà sa cho Tăng chúng vào mùa kiết hạ, từ nay cho đến ngày bà qua đời.
Cúng dường cho tất cả Tỳ kheo đến Savathi.
Cúng dường cho tất cả Tỳ kheo ra khỏi Savathi.
Cúng dường thức ăn cho Tỳ kheo ốm.
Cúng dường thức ăn cho những ai săn sóc người ốm.
Cúng dường thuốc men cho Tý kheo ốm.
Cúng dường cháo cho Tỳ kheo.
Cúng dường áo tắm cho Tỳ kheo ni.

Đức
Phật vui vẻ nhận lời, Đức Phật nhiều lần thuyết pháp cho bà Visakha.
Trong một bài thuyết pháp, Đức Phật có nói tới tám giới cho Phật tử tại
gia nên theo trong những ngày Bố Tát (Uposatha). Hiện nay, tám giới này
vẫn được Phật tử theo, trong các ngày Bố Tát ở các nước có đạo Phật.

Bà Visakha là nữ thí chủ lớn nhất của Đức Phật và Tăng chúng, cũng như ông Anathapindika là nam thí chủ lớn nhất.

28. Đức Phật và vua Bimbisara

Bimbisara
(Tần Ba Sa La) là vua xứ Magadha, có kinh đô ở thành Rajagaha (Vương
Xá). Vua từng gặp Đức Phật khi Phật mới xuất gia, và yêu cầu Đức Phật
trở lại thăm vương quốc của vua, sau ngày thành đạo. Giữ đúng lời hứa
cũ, Đức Phật cùng với đông đảo các vị A la hán đệ tử, đi từ Gaya đến
thủ đô Rajagaha, và nghỉ tại đền Suppatittha trong một rừng cây cọ dừa.
Đươc tin, vua Bimbirasa cùng với quần thần đông đảo đến chào Đức Phật
và Tăng chúng.

Vì trong số đệ tử đi theo hầu Đức Phật, có Tôn
giả Kassapa vốn có uy tín lớn trong quần chúng ở đây, cho nên nhiều
người phân vân không rõ ai là bậc Đạo Sư, Đức Phật hay là Tôn giả
Kassapa. Đức Phật biết rõ mối phân vân đó của quần chúng, bèn hỏi ông
Kassapa vì nguyên nhân gì ông bỏ tập tục tế thần lửa. Ông Kassapa thưa
rằng, ông bỏ tập tục tế thần lửa, vì ông nhận thấy cảnh giới Niết bàn
an tịnh, cao quý hơn nhiều so với dục lạc thế gian. Nói xong ông đảnh
lễ Phật và nói: "Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư, con là đệ tử của Ngài".

Đức
Phật bèn giảng kinh bổn sanh của ông Kassapa cho mọi người nghe, kể
rằng trong một kiếp trước, Đức Phật cũng đã từng độ cho ông Kassapa ở
xứ Narada. Được nghe Phật thuyết pháp, vua Bimbisara chứng ngay Sơ quả.
Hôm sau, vua thết trai tăng ở hoàng cung, mời Phật và Tăng chúng tham
dự. Sau đó, vua tặng Đức Phật và Tăng chúng công viên Trúc Lâm, trong
đó có đền Con Sóc và Tinh Xá Veluvanaràma, nơi đây Đức Phật trải qua 6
mùa an cư kiết hạ.

Bà Khema, vợ thứ của vua, sau này xuất gi và
cùng với bà Gotami, lãnh đạo Ni chúng. Còn Hoàng hậu chánh thất của vua
là bà Kosala Devi, con gái vua Pasenadi xứ Kosala. Con bà Kosala Devi
là Ajatasattu (A Xà Thế), sau này cướp ngôi và giết vua cha, đó là do
nghiệp quá khứ của vua Bimbisara quá nặng nề. Nhưng vì vua đã chứng Sơ
quả, cho nên cái chết của vua cũng nhẹ nhàng, đỡ phần bi thảm và sau
khi qua đời, vua lập tức sanh lên cõi trời Lummaharajika với cái tên
thiên chủ Janavasabba.

Ajatasattu sau khi cùng với Devadatta âm
mưu giết hại Phật không thành, biết ăn năn hối lỗi, xin Phật cho quy y
và trở thành một Phật tử tại gia hàng đầu của Đức Phật. Do nghiệp quá
khứ nặng nề, cho nên đến lượt ông, ông cũng bị con ông giết và cướp
ngôi.



29. Đức Phật và tướng cướp Angulimala

Một
sự kiện đáng ghi nhớ, đánh dấu năm thứ 20 ngày thành đạo là Đức Phật
giác ngộ cho Angulimala, tên tướng cướp khét tiếng hung ác của xứ
Kosala. Tên thật của Angulimala là Ahimsaka (Kẻ vô tội). Cha ông vốn là
một quan chức trong triều vua xứ Kosala. Thời niên thiếu, ông theo học
ở Taxila, là trung tâm học vấn nổi tiếng đương thời ở Bắc Ấn Độ. Ông
học rất giỏi và được thầy yêu thương nhất trong số các học sinh. Điều
không may là các bạn đồng học ghen tỵ ông, vu cáo ông với thầy giáo và
ông thầy giáo cả tin đâm ra căm thù ông, và muốn giết ông bằng cách bắt
ông trả học phí bằng 1000 ngón tay phải của con người. Angulimala phải
vâng lời thầy, mặc dù rất khổ tâm. Ông bèn rút lui vào rừng Jalini ở
Kosala và bắt đầu giết người để có đủ số ngón tay cần thiết.

Ban
đầu, ông treo các ngón tay người trên cây, nhưng vì các ngón tay bị quạ
mổ ăn, cho nên ông xâu ngón tay người lại thành vòng để đeo nơi cổ; do
đó ông có tên Angulimala (vòng ngón tay). Sách kể rằng, khi ông đã thu
thập được 999 ngón tay, thời Đức Phật xuất hiện. Angulimala rất mừng vì
sắp có đủ số ngón tay cần thiết để nộp cho ông thầy giáo ác độc,
Angulimala rút gươm, chạy đuổi theo Phật.

Vì Đức Phật dùng
phép thần thông, nên Angulimala càng đuổi nhanh, càng không bắt kịp
được Phật, mặc dù Phật vẫn đi khoan thai từ từ. Cuối cùng, thở hỗn hển
và ướt đẫm mồ hôi, Angulimala đứng lại và gọi: "Này Tu sĩ, hãy dừng
chân". Đức Phật nói bằng giọng từ tốn: "Mặc dù ta đang đi, nhưng ta đã
dừng chân. Còn nhà ngươi đã dừng chân hay chưa?"

Angulimala
không hiểu ý tứ câu nói của Đức Phật như thế nào? Bởi vì Đức Phật đang
đi, lại nói là đã dừng chân. Còn Angulimala đã dừng chân rồi, thì Phật
lại bảo "Hãy dừng chân!" Angulimala hỏi Phật và được Phật giải thích
như sau:

"Đúng là ta đã dừng mãi mãi, này Angulimala,

Không bao giờ dùng bạo lực với chúng sanh.

Còn nhà ngươi, hãy dừng tay chớ có giết hại đồng loại

Vì vậy mà Ta nói rằng, Ta đã dừng,

Và bảo ngươi cũng hãy dừng tay!"

Nghiệp
thiện ngày xưa của Angulimala tác động vào tư tưởng của ông, và ông
biết rằng, ông đang đứng trước mặt Đức Phật Thích Ca, Ngài đã vì lòng
thương xót ông mà đến cứu ông ra khỏi vòng tội lõi. Ông vứt gươm xuống
đất, xin Đức Phật cho ông được xuất gia làm Tăng. Đức Phật chỉ nói một
câu đơn giản: "Ehi Bikkhu" (Hãy đến ! Tỳ kheo).

Thế nhưng, mặc
dù xuất gia, tinh thần của Tỳ kheo Angulimala vẫn không được yên ổn.
Thường xuyên, ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu khóc của những người ông đã
sát hại. Một hôm, đi khất thực, ông bị quần chúng đuổi đánh, ném đá,
ông trở về tu viện, lỗ đầu, chảy máu. Đức Phật giải thích cho
Angulimala biết, đó là Angulimala trả nợ nghiệp ác cũ của mình.

Một
ngày, Angulimala đi khất thực, gặp một người đàn bà trở dạ, khó sanh và
đang vô cùng đau đớn. Không biết làm sao được, Angulimala trở về hỏi
Đức Phật. Đức Phật bày cho Angulimala đem lời sau đây nói với người đàn
bà:

"Này bà chị, từ khi tôi sanh trở lại trong hàng Thánh chúng,
tôi không có giết hại bất cứ một loại hữu tinh nào. Cầu mong lời nói
thật này giúp cho bà chị được khỏi đau đớn, con của bà chị được sanh nở
an toàn".

Angulimala học thuộc lời Đức Phật, và đến nói với
người đàn bà đau đớn, khó sanh. Lập tức, người đàn bà hết đau, và hạ
sanh đứa con dễ dàng. Lời nầy của Đức Phật được gọi là Angulimala
Paritta. Ngày nay, ở các xứ Phật giáo Nam phương, người ta vẫn có tập
tục đọc lời Angulimala Paritta để làm dịu cơn đau đẻ của phụ nữ.

Sau này, Angulimala chứng quả A la hán.

30. Đức Phật và kỹ nữ Ambapali

Ambapali
là người kỹ nữ nổi danh tài sắc của thành phố Vesali. Trên đường đi
Kusinara, để nhập Niết bàn, Đức Phật dừng lại Vesali, và nghỉ ở vườn
xoài của Ambapali. Được tin, Ambapali đến chào Đức Phật, và trân trọng
mời Đức Phật và chúng Tăng đến dùng tiệc trai ngày mai tại nhà bà. Đức
Phật nhận lời, và từ chối lời mời của hàng quý tộc Liechavi. Họ hứa trả
bà Ambapali một số tiền rất lớn, để bà nhường lại cho quý tộc Liechavi
đặc ân được thiết cơm Phật và chúng Tăng nhưng bà từ chối và hôm sau, y
lời hẹn, Đức Phật và chúng Tăng đến với nhà bà Ambapali dùng tiệc trai.
Sau bữa tiệc, Ambapali kính tặng Đức Phật và chúng Tăng vườn xoài to
lớn của bà để làm Tinh xá. Sau này, Ambapali cũng xuất gia và chứng quả
A la hán.

Hai sự kiện Angulimala và Ambapali cho thấy, cửa Đạo
Từ Bi mở rộng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu sang, nghèo
hèn và đẳng cấp xã hội. Một tướng cướp như Angulimala, một dâm nữ như
Ambapali, nếu thành tâm hối lỗi, cũng có thể xuất gia, tinh tấn tu học
và chứng Thánh quả cao nhất. Một lòng tin thuần thành, và một nỗ lực
lớn nhất: đó là điều kiện cơ bản để đi vào đạo Thánh và trở thành bậc
Thánh trên thế giới này. Đạo Phật không đòi hỏi một điều kiện nào khác.

31. Đức Phật tuyên bố sẽ nhập Niết Bàn

Đức
Phật năm nay tròn 80 tuổi. Ngài nhận định sự nghiệp thuyết pháp, giáo
hóa độ sanh của Ngài đã hoàn thành. Thời điểm đã đến để Ngài nhập Niết
bàn. Trên đường đi Kusinara, khi Đức Phật dừng chân tại Vaisali, ở Tinh
Xá Capala, Ngài đã tuyên bố với tôn giả Ananda là ba tháng nữa, Ngài sẽ
nhập Niết bàn. Ngài không chấp nhận lời yêu cầu của Ananda, xin Ngài
sống thêm một kiếp nữa, vì hạnh phúc, vì an lạc của chúng sanh. Đức
Phật giảng cho ông Ananda về tính vô thường của mọi sự vật trên thế
gian này, và bảo ông Ananda tập hợp chúng Tỳ kheo ở Vaisali lại ở Tinh
Xá Mahavana, để nghe Phật thuyết pháp.

Rồi Đức Phật nói với
chúng Tỳ kheo những lời lẽ như sau: "Này các Tỳ kheo! Mọi pháp đều vô
thường. Hãy siêng năng phấn đấu. Như Lai sắp nhập Niết bàn. Từ nay
trong vòng 3 tháng nữa, Như Lai sẽ nhập Niết bàn. Tuổi Ta đã già, cuộc
sống con người ngắn ngủi. Ta sẽ vĩnh biệt các người. Hãy tinh tấn,
chánh niệm tỉnh giác và sống đạo đức. Người nào sống không phóng dật
trong giới luật, người đó sẽ được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi và
chấm dứt mọi đau khổ".

Và một lần cuối cùng, nhìn thành phố Vaisali, Đức Phật nói chúng Tỳ kheo:

"Giới, định, và tuệ, giải thoát tối hậu. Đó là những điều Như Lai thực hiện".

32. Buổi ăn cuối cùng của Đức Phật

Từ
Vaisali, Đức Phật cùng với tôn giả Ananda và chúng Tỳ kheo lên đường đi
Kusinara. Dọc đường, Đức Phật cùng chúng Tăng dừng lại ở nhiều nơi,
tiếp xúc với dân chúng, thuyết pháp độ sanh.

Ở Pava, người thợ
rèn Cunda (Thuần Đà) thết tiệc trai Đức Phật và chúng Tăng. Cunda chuẩn
bị riêng cho Đức Phật một món ăn đặc biệt, gọi là sùkaramaddava. Đức
Phật khuyên Cunda dành riêng dĩa thức ăn đó cho Đức Phật, và phần còn
lại của dĩa phải đem chôn đi. Và nói: "Chỉ có Như Lai mới ăn và tiêu
hóa được thức ăn này mà thôi".

Ăn xong, Đức Phật bị kiết lỵ
nặng. Ngài tuy mệt nhưng vẫn giữ tinh thần bình thản và quyết định lại
lên đường đi Kusinara, cách Pava khoảng 6 dặm. Đức Phật tắm lần cuối
cùng ở sông Kakutthi, và sau khi nghỉ một lát, Ngài nói với Đại đức
Ananda: "Có thể có người trách Cunda về bữa cơm cuối cùng dọn cho Ta,
vì sau bữa ăn đó Ta sẽ nhập Niết bàn, và Cunda có thể ăn năn hối hận.
Nhà ngươi cần nói cho Cunda biết rằng, có hai bữa ăn cúng dường cho Như
Lai, đem lại công đức lớn nhất cho người cúng dường. Đó là bữa ăn cúng
dường Như Lai trước giờ Như Lai thành đạo và bữa ăn cúng dường Như Lai
trước giờ Như Lai nhập Niết bàn. Hãy nói cho Cunda biết rằng, nhờ đã
cúng dường Như Lai bữa ăn cuối cùng trước khi Như Lai nhập Niết bàn,
Cunda được phúc đức lớn, quả báo lớn, nhờ đó mà Cunda được thọ mạng lâu
dài, tái sanh ở cõi lành, giàu có, tiếng tăm, được sanh lên cõi trời và
có quyền lực lớn. Này Ananda, ngươi hãy nói như vậy để loại bỏ mọi nỗi
ân hận của Cunda, nếu có".

Nói xong, Đức Phật đến vườn cây Sala
ở Kusinara, nơi có bộ tộc Mallas ở, và bảo Đại đức Ananda chuẩn bị chỗ
nằm, để Đức Phật yên nghỉ, đầu hướng Bắc, nằm nghiêng mình, chân phải
để trên chân trái, bình thản, tỉnh táo.

33. Cách tốt đẹp nhất để tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai

Thấy
các cây Sala trổ hoa trái mùa, và các biểu hiện khác của niềm tin
tưởng, quý mến, tôn trọng Như Lai, Đức Phật bèn nói với các Tỳ kheo có
mặt như sau:

"Này Ananda, không nên tôn trọng, đảnh lễ, tán
thán, quý mến Như Lai theo kiểu như vậy. Nhưng bất cứ Tỳ kheo hay Tỳ
kheo ni nào, Ưu bà tắc hay Ưu bà di nào mà sống đúng với Chánh pháp, tự
mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân chánh, thì chính người đó
tôn trọng, đảnh lễ, tán thán và quý mến Như Lai một cách tốt đẹp nhất.
Do đó, này Ananda, các người phải tu tập như vậy. Mọi người hãy sống
đúng với chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với đạo, có hành động chân
chánh".

34. Bốn địa điểm chiêm bái

Rồi Đức Phật nói tới bốn địa điểm có liên hệ tới Đức Phật, mà Phật tử có thể đến chiêm bái. Đó là:

Nơi Đức Phật giáng sinh, ở vườn Lumbini (Lâm tỳ ni) tại vùng biên giới Ấn Độ - Nepan.

Nơi Đức Phật thành đạo ở Bodhi Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng).

Nơi Đức Phật bắt đầu chuyển thành bánh xe Pháp (Sarnàth) tức là Vườn Nai gần Benarès.

Nơi Đức Phật nhập Niết bàn ở Kusinàra (nay là Kasia, cách 32 dặm nhà ga Gorakbpur).

Đức
Phật dạy rằng: "Những người nào qua đời trong quá trình đi chiêm bái,
với lòng có đức tin, thì sẽ được sanh lên các cõi trời".

35. Đức Phật hóa độ cho người cuối cùng: du sĩ Subhadda

Bấy
giờ có du sĩ Subhadda, đang sống ở Kusinara, biết tin Đức Phật sẽ nhập
Niết bàn vào canh cuối cùng của đêm nay ở Kusinara. Du sĩ có suy nghĩ
như sau: "Các đạo sư lớn tuổi, các du sĩ thường nói với ta rằng sự kiện
Như Lai, bậc toàn giác xuất hiện ở đời là hiếm có, rất hiếm có. Vào
canh cuối cùng đêm nay, Đức Phật Thích Ca, bậc Toàn giác sẽ nhập diệt.
Ở đây ta có lòng tin Đức Phật, có thể là Ngài sẽ thuyết pháp cho ta để
ta được giác ngộ".

Rồi du sĩ Subhadda đi đến rừng cây Sala, và
xin Đại đức Ananda cho được gặp Đức Phật. Nhưng ông Ananda nói là Đức
Phật đang mệt, không thể tiếp được. Subhadda ba lần thỉnh cầu, Đại đức
Ananda đều không chấp nhận. Nhưng Đức Phật nghe câu chuyện giữa Đại đức
Ananda và du sĩ Subhadda, bèn nói với Đại đức Ananda rằng: "Hãy để cho
Subhadda vào. Ông ta đến đây để mong được nghe pháp, được giác ngộ, chứ
không phải để làm phiền Ta, và những lời Ta nói, Subhadda sẽ có thể
hiểu được".

Đức Phật nói cho Subhadda nghe về con đường đạo tám
nhánh, và chỉ có những người tu học theo pháp và luật của Như Lai, mới
thực hành con đường đạo tám nhánh và mới có thể trở thành đệ nhất Sa
môn, đệ nhị Sa môn, đệ tam Sa môn, đệ tứ Sa môn. Subhadda vô cùng hoan
hỷ và xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Đồng thời xin được xuất
gia làm Tăng, ngay bây giờ trước mặt Đức Phật. Tuy rằng theo luật, đáng
lý, Subhadda vốn là du sĩ ngoại đạo, phải trải qua 4 tháng thử thách và
sau đó, nếu Tăng chúng chấp nhận, mới được thọ giới Tỳ kheo. Nhưng vì
trường hợp rất đặc biệt, Đức Phật đặc cách cho Subhadda miễn trải qua 4
tháng thử thách và bảo Tôn giả Ananda truyền thụ giới Tỳ kheo cho
Subhadda. Subhadda sau một thời gian tu học tinh tấn, trở thành một A
la hán. Ông là người được Phật hóa độ cuối cùng.

36. Những lời dạy cuối cùng của Đức Phật

Đức
Phật thấy Đại đức Ananda buồn khóc, bèn thân mật an ủi, tán thán đức
hạnh của Đại đức Ananda như là một thị giả, một đệ tử kiểu mẫu, và
khích lệ Đại đức phấn đấu tinh tấn để sớm được giải thoát, trở thành A
la hán. Sau đó, Đức Phật nói với Đại đức Ananda đi báo cho dân chúng
Mallas biết là Như Lai sắp nhập Niết bàn vào canh cuối đêm nay tại rừng
cây Sala.

Được tin đông đảo dân chúng Mallas, đàn ông, đàn bà,
người già, thanh niên, trẻ con tấp nập kéo đến rừng cây Sala bày tỏ
lòng tôn kính, thương tiếc và vĩnh biệt Đức Phật lần cuối cùng. Sau đây
là những lời dặn của Đức Phật với chúng đệ tử, trước khi ngài nhập Niết
bàn.

"Này Ananda, có thể các ngươi nghĩ rằng: Chỉ còn lại giáo
phái cao cả mà không còn bậc Đạo sư, chúng ta không còn có bậc Đạo sư
nữa. Không! Ananda, các ngươi không được nghĩ như vậy, Pháp và Luật mà
ta đã dạy, tuyên bố sẽ là đạo sư của các ngươi, sau khi Ta nhập Niết
bàn."

"Này Ananda, Tăng chúng nếu muốn, có thể bỏ các giới luật phụ và nhỏ, sau khi Ta nhập Niết bàn".

"Này
các đệ tử của Ta, nếu các ngươi còn có nghi ngờ gì về Phật, Pháp, Tăng
hay về con đường đạo, về phương pháp thì hãy hỏi Ta, đừng để sau này
hối tiếc, nghĩ rằng, đối diện với Như Lai mà không hỏi được Như Lai câu
nào!"

Đức Phật nói xong, chúng đệ tử đều im lặng, Đức Phật hỏi tới ba lần, chúng đệ tử đều im lặng.

Đức
Phật nói: "Có thể vì các ngươi tôn trọng bậc đạo sư mà không đặt câu
hỏi chăng? Thì hãy để một người nói thay vậy". Một lần nữa, chúng đệ tử
vẫn im lặng.

Đại đức Ananda bạch Phật rằng: "Tuyệt vời thay! Hy
hữu thay! Thưa đức Thế Tôn. Trong hàng đệ tử chúng con ở đây, không có
một người nào nghi ngờ và thắc mắc gì đối với Phật, Pháp, Tăng, con
đường đạo và phương pháp".

Đức Phật nói: "Này Ananda, nhà ngươi
nói vì niềm tin đối với Như Lai, Như Lai biết rõ là, trong chúng đệ tử
có mặt tại đây, không có người nào còn nghi ngờ thắc mắc đối với Pháp,
Tăng, con đường đạo và phương pháp. Trong số năm trăm đệ tử này, này
Ananda, người kém nhất cũng đã chứng quả Dự Lưu, không còn thoái chuyển
nữa, cuối cùng chắc chắn sẽ được giác ngộ".

Câu nói cuối cùng
của Đức Phật là: "Hỡi các đệ tử, Ta khích lệ các người, mọi pháp hữu vi
đều biến hoại. Hãy tích cực phấn đấu!". Thế rồi đức Thế Tôn im lặng.
Ngài lặng lẽ nhập định, tuần tự trải qua các cấp thiền từ thấp tới cao,
rồi cuối cùng chủ động nhập Niết bàn.

37. Lễ Trà tỳ và sự phân chia xá lợi của Phật

Thi
hài Đức Phật được dân chúng Mallas trân trọng đưa tới Makutabandhana,
và để ở đó bảy ngày trước khi tổ chức lễ trà tỳ chính thức (hỏa táng).
Tôn giả Maha Kassapa cũng về đây để đảnh lễ vĩnh biệt Đức Phật lần cuối
cùng và chủ trì lễ hỏa táng. Sau lễ trà tỳ, dân chúng Mallas thu thập
xá lợi để cúng dường. Các nước lân cận và nhất là vua Ajatasattu cũng
đòi một phần Xá lợi. Vì ban đầu dân chúng Mallas không chịu, cho nên có
nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh xung quanh việc phân chia xá lợi.
Nhưng cuối cùng, các bên cũng thỏa thuận được với nhau là xá lợi Phật
chia làm tám phần, phân phối cho dân chúng Mallas, vua Ajatasattu xứ
Magadha, bộ tộc Liechavi ở Vaisali, bộ tộc Sakya ở Kapitavastu, bộ tộc
Bulaka ở Calakalna, bộ tộc Krandya ở Ramagrama, những người Bà la môn ở
Visudvipa, những người Mallas ở Pava.

Bà la môn Dona, người tổ
chức thành công việc phân chia Xá lợi, dành lấy cho mình cái bình đựng
Xá Lợi. Những người Maurya ở Pipphalirana, vì đến chậm, chỉ nhận được
tro còn lại của giàn hỏa. Các bên được phân chia Xá Lợi, đều xây tháp ở
quốc gia mình để cúng dường. Như vậy, có tất cả 10 tháp: tám tháp đựng
Xá Lợi của Phật, một tháp xây trên bình chứa Xá Lợi, và một tháp thờ
tro của giàn hỏa.

Kết luận

Trên đây là sơ lược tiểu sử
Phật Thích Ca, căn cứ vào các nguồn tư liệu chính thống của kinh sách
Đạo Phật. Trong tiểu sử đó, phần nào là sự thật lịch sử, phần nào là
huyền thoại và thần thoại, do các thế hệ đệ tử và tín đồ sùng kính Phật
thêm vào về sau này, đó là điều chúng ta không thể xác định được. Thế
nhưng, dựa vào các tài liệu rải rác và được hệ thống hóa lại, chúng ta
có thể có mấy nhận định sau đây về nhân vật Thích Ca, khác với các giáo
chủ các tôn giáo khác như thế nào.

1. Phật không phải là Thượng
đế tạo thế và cứu thế. Phật, theo đúng nghĩa của từ Phật, là bậc giác
ngộ, và ai giác ngộ được như Phật đều gọi là Phật. Vì vậy, theo Phật
giáo thì đã có nhiều Phật trước Phật Thích Ca và sau Phật Thích Ca,
cũng sẽ có nhiều Phật ra đời nữa. Đạo Phật thủy chung bác bỏ quan niệm
siêu hình về một cái nhân ban đầu, từ con số không mà sinh ra được thế
giới, vạn vật, v.v. Chủ thuyết của Đạo Phật là mọi sự đều do nhiều
nhân, nhiều duyên sinh ra, gọi là thuyết nhân duyên sinh. Phật cũng
không phải là một đấng cứu thế, vì Phật "Chỉ dạy về con đường và nếu
các người đi theo con đường này, mọi đau khổ sẽ đoạn tận". (Pháp Cú, kệ
275).

Phật luôn luôn nhắc nhở đệ tử là tự mình làm cho mình trở
nên trong sạch. Và cũng tự mình làm cho mình dơ bẩn. Chứ không ai làm
cho ai được trong sạch hay dơ bẩn cả.

"Tự mình điều ác làm,

Tự mình làm nhiễm ô.

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh

Tịnh không tịnh tự mình

Không ai thanh tịnh ai". (Pháp Cú, kệ 165).

Chính
vì những lý lẽ trên mà nhiều đạo giáo khác cho rằng đạo Phật là vô
thần, theo nghĩa đạo Phật không công nhận có Thượng đế tạo thế và cứu
thế. Nhưng ít có tôn giáo nào đề cao con người và tình thương con người
như đạo Phật.

Thậm chí, có người nói đạo Phật không phải là tôn
giáo, bởi vì đã là tôn giáo thì phải công nhận thế giới do Thượng đế
sáng tạo và người phải có linh hồn. Nhưng đạo Phật đồng thời bác bỏ cả
thuyết Thượng đế và thuyết linh hồn.

Nhưng đạo Phật vẫn là một
tôn giáo, ở chỗ, thứ nhất, nó có một Giáo chủ, một đức Bổn sử là Phật
Thích Ca, mặc dù đã nhập diệt cách đây hơn 2500 năm, nhưng vẫn là đối
tượng quy ngưỡng của hàng triệu triệu tín đồ Phật tử hiện nay trên khắp
thế giới. Thứ hai, nó có một hệ thống giáo lý được ghi lại trong ba
tạng kinh điển có nguyên tắc bằng hai cổ ngữ chính là Pali và Sanskrit,
và hiện nay đã được dịch ra hầu hết các ngôn ngữ chính trên thế giới.
Thứ ba, nó có một giáo đoàn tăng sĩ, chấp nhận và thực hành mọi quy tắc
được Phật chế định ngay lúc khi Ngài còn tại thế, và được ghi lại trong
giới bổn Patimokkha.

2. Phật luôn luôn khuyến cáo đệ tử là phải
tin ở sức mình, ở khả năng của mình thành tựu đích giác ngộ và giải
thoát tối hậu. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, Phật nói
với tôn giả Ananda, người đệ tử thân cận của mình như sau: "Hãy dựa vào
bản thân mình, như là ngọn đèn sáng cho chính mình. Hãy dựa vào sức của
bản thân mình là chính. Hãy dựa vững vàng vào Chánh Pháp. Đừng có tìm
một chỗ dựa nào khác ngoài bản thân mình".

Có thể nói, đặc sắc
của Phật Thích Ca như là một giáo chủ, là không áp đặt một quyền lực
nào hết lên trên con người. Phật không bao giờ cường điệu tính yếu hèn,
tính tội lỗi nơi con người, trái lại, Phật luôn luôn nhấn mạnh con
người có đầy đủ bản chất hướng thiện, đồng thời có đầy đủ khả năng tự
hoàn thiện mình. Tự mình cố gắng và phấn đấu, thì mình sẽ được giác ngộ
và giải thoát. Đó là lời khuyên thường được nhắc đi, nhắc lại của Phật
Thích Ca.

3. Phật Thích Ca không phải là một nhà cách mạng và
hoạt động xã hội theo ý nghĩa hiện đại của từ đó, nhưng quan điểm xã
hội của Phật rất rõ ràng. Phật không tán thành chế độ đẳng cấp xã hội ở
Ấn Độ. Giáo hội Tăng già do Phật sáng lập không phân biệt đẳng cấp xã
hội. Phật nói: "Hỡi các Tỳ kheo, cũng như các con sông lớn, sông Hằng
Hà, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarabhu, sông Mahi, khi chúng đổ
vào biển thì chúng mất tên gọi trước đây của chúng, và được gọi cùng
một tên là biển cả mà thôi, cũng như vậy, bốn đẳng cấp Sát đế lợi, Bà
la môn, Vệ xá, và Thủ đà la, một khi họ đã đến với Pháp và Luật do Như
Lai giảng thuyết, từ cuộc sống gia đình đến cuộc sống không nhà thì họ
cũng đều mất tên gọi trước đây của họ, bộ lạc cũ của họ, và được gọi
cùng một tên là tu sĩ".

Trong hàng ngũ đệ tử của Phật khi Phật
còn tại thế, xuất gia cũng như tại gia, đều có đủ các hạng người thuộc
đủ mọi đẳng cấp, từ các vua chúa lớn nhất của các vương quốc hùng mạnh
tại Ấn Độ thời bấy giờ như vua Bimbisara, vua Ajatassattu, vua Pasenadi
v.v.. cho đến các giáo sĩ Bà La Môn nổi danh là thông minh, cao đạo như
anh em Kassapa, hai ông Sariputta và Moggalana cho đến anh thợ cạo
thuộc bộ tộc Sakya là Upali, ngưòi dâm nữ nổi danh tài sắc thành
Vaisali là Ambapali, tên cướp khét tiếng tàn ác là Angulimala ở Kosala.

Tất
cả mọi người, không kể trí, ngu, sang, hèn, nếu thành tâm cầu đạo, ăn
năn lỗi trước, đều có thể tu đạo, và chứng đạo, trở thành bậc Thánh
giữa chúng sanh, chứng ngay Niết Bàn trên cõi thế. Phật luôn luôn nhấn
mạnh tính bình đẳng giữa người và người với nhau. Phật nói về những
người thuộc đẳng cấp Bà La Môn, vốn thường tự xem mình là tầng lớp xã
hội thượng đẳng: "Là Bà La Môn hay là tiện dân không phải là do sinh đẻ
mà là do hành động của bản thân mình. Người Bà La Môn hay là tiện dân
không phải là do sinh đẻ mà là do hành động của bản thân mình. Người Bà
La Môn không phải sinh ra từ lửa, nhờ có hai thanh gỗ ma xát nhau, cũng
không phải từ trên trời rơi xuống hay là từ gió bay ra, cũng không phải
từ dưới đất chui lên. Những người Bà La Môn cũng sinh ra từ bụng mẹ
hoàn toàn giống nhau như người Thủ Đà la vậy. Mọi người đều có quan
năng trong cơ thể tương tự nhau, không có gì khác nhau cả. Sao lại có
thể có những người tự cho mình thuộc loại hay giống như người đặc
biệt?".

Phật không có thành kiến về giới tính, tuy rằng Phật cho
rằng bản chất người phụ nữ là yếu đuối, và Phật đã tỏ ra dè dặt khi cho
thiết lập đoàn thể nữ tu sĩ đầu tiên. Nhưng sau khi xuất gia, nhiều nữ
tu sĩ đã trở thành nổi danh về đạo đức cao khiết và học lực uyên thâm.
Cũng như hai ông Sariputta và Moggalana là Thượng thủ của Tăng chúng
thời Phật, hai bà Khema và Gotami cũng được tôn là Thượng thủ của Ni
chúng. Hai bà cũng đều chứng quả A la hán.

Giáo hội Tăng già do
Phật Thích Ca sáng lập ra là một đoàn thể thật sự dân chủ. Giáo hội đó
không biết đến giáo quyền. Giáo hội đó dựa trên tinh thần đoàn kết,
tương thân, tương ái, gọi là lục hòa (sáu điều hòa hợp).

4. Phật
Thích Ca là một giáo chủ rất rộng lượng và khiêm tốn, Phật thường ví
Phật Pháp như cái bè qua sông, như ngón tay chỉ mặt trăng hay là con
đường dẫn tới Chân lý, chứ bản thân Phật pháp không phải là chân lý tối
hậu. Đã là cái bè qua sông thì có thể có nhiều thuyền, nhiều bè khác
nhau cùng qua sông; đã là ngón tay chỉ mặt trăng thì có thể có nhiều
ngón tay cùng một lúc chỉ mặt trăng; đã là con đường dẫn tới chân lý
thì có thể có nhiều con đường khác nhau dẫn tới đích là Chân lý tối hậu.

Hai
nữa, giác ngộ và giải thoát là một thực nghiệm cá nhân, nghĩa là không
ai có thể giác ngộ hay giải thoát thay cho ai được cả. Có những điều
mình làm được nhưng người khác không làm được, mình làm dễ nhưng người
khác làm khó, trong hoàn cảnh này làm được, nhưng trong hoàn cảnh khác
lại không. Một tôn giáo tầm cỡ thế giới như đạo Phật không thể cứng
nhắc hay hẹp hòi được. Đấy là một lý do vì sao trong đạo Phật, có lắm
tôn nhiều phái, và giữa các phái với nhau, trong quá khứ cũng như hiện
nay, tuyệt đối không bao giờ có sự lấn áp trên thế mạnh dù rằng có
nhiều lúc Phật giáo có ưu thế hơn, được chính quyền trọng đãi như quốc
giáo (như trong hai triều đại Lý, Trần ở Việt Nam).

Những Tăng
Ni Phật giáo, nếu sống đúng theo giới luật nhà Phật, là những người vô
sản hoàn toán. Họ không có quyền lực, cũng không có tiền bạc. Họ chỉ có
hai điều: lòng Từ bi và Trí tuệ. Nhưng với hai vũ khí đó, đạo Phật
trong một thời, đã từng chinh phục trái tim và khối óc của đại bộ phận
nhân dân thế giới cổ đại và phong kiến
[*], và hiện nay nó vẫn là một
tôn giáo thế giới với hàng trăm triệu tín đồ.

[*] Toàn bộ thời
kỳ từ nửa thế kỷ IV đến cuối thế kỷ VIII sau Công nguyên có thể được
gọi là kỷ nguyên Phật giáo của lịch sử Trung Hoa. Trên thực tế, có thể
gọi đó là kỷ nguyên Phật giáo cuả lịch sử châu Á. Và có thể nói, của cả
thế giới, bởi lẽ vào thời kỳ đó, khoảng hơn một nửa dân số thế giới là
tín đồ đạo Phật. Đạo Phật trải rộng trên toàn khắp châu Á, trừ hai vùng
Siberi và Cận Đông, tạo thành cho cả châu lục này một sự thống nhất về
văn hóa chưa từng có. (East Asia-The Great Tradition, - Đông Á - Truyền
thống vĩ đại, tr. 147-148, Edwin O Reischauer and John K. Faichanks,
Harvard University)

Trên đây là 4 đặc điểm về nhân cách của Phật
Thích Ca, như là một giáo chủ. Các Tăng sĩ, tu sĩ Phật giáo của bất cứ
một nước nào, trước đây cũng như hiện nay đều phải lấy đó làm gương.
Không thể tưởng tượong được một Tăng sĩ Phật giáo, dù cao niên, dù bác
học đến đâu mà có thái độ và giọng nói giáo quyền, sống không giản dị,
không thiểu dục, trí túc, lại kích động, chống đối và bạo loạn, vì
những mục đích danh lợi cá nhân, bày trò dị đoan để lôi kéo quần chúng,
trong khi Phật Thích Ca tuyệt đối ngăn cấm không được làm như vậy, cho
rằng đó là một việc làm xấu hổ, không nên làm.

Tăng sĩ phải là
gương sáng của đạo đức và trí tuệ, là người thầy dạy giáo pháp và đạo
đức và giới luật. Nhà chùa phải là trung tâm của trí tuệ và đạo đức,
chứ không phải là nơi chỉ có cúng kiến và lễ bái. Kinh sách Phật phải
được giảng diễn cho người đời hiểu và làm theo, chứ không phải để riêng
cho giới tu sĩ đọc tụng. Đó là hướng tiến tới của đạo Phật chân chính
sẽ còn tồn tại lâu dài trong l
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Lịch sử Đức Phật Thích Ca p2
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Gia Đình Phật Tử Thanh Sơn :: Chuyên Mục Phật Pháp-
Chuyển đến 
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog